Béo phì: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Ngày 22/10/022, Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì”.

Béo phì là tình trạng tích tụ mỡ thừa hoặc bất thường, có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Ở nhiều nước trên thế giới, tình trạng béo phì ngày càng gia tăng, đặc biệt trong 10 năm trở lại đây. Bệnh béo phì có sự thay đổi theo giới, tuổi, tình trạng kinh tế, xã hội, yếu tố chủng tộc. Tỷ lệ béo phì đang gia tăng nhanh tại Việt Nam khoảng 2,6% năm 2010 lên đến 3,6% năm 2014 tương đương với tốc độ tăng trưởng 38%.

Nghiên cứu được công bố vào năm 2018 về bệnh không lây nhiễm, ăn uống và dinh dưỡng ở Việt Nam trong thời gian từ 1975 – 2015 cho thấy tần suất thừa cân, béo phì trên người lớn ở Việt Nam là 2,3% vào năm 1993 và tăng lên đáng kể 15% vào năm 2015, tỷ lệ ở thành thị gấp gần 2 lần so với nông thôn (22,1% so với 11,2%). Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận lối sống của người Việt Nam thay đổi rất nhiều trong những năm gần đây như ít vận động hơn, trong chế độ ăn có nhiều muối, ăn nhiều mì ăn liền, uống nhiều nước ngọt, ăn ít rau và hải sản. Một thống kê tại Việt Nam 2021 cho kết quả tương tự với tỷ lệ thừa cân, béo phì ở Hà Nội và Hồ Chí Minh chiếm 18% tổng số lượng người thừa cân, béo phì trên toàn quốc.

Rất đáng lưu ý là tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em tuổi học đường 5-19 tuổi tăng từ 8,5% năm 2010 lên thành 19,0% năm 2020, trong đó tỷ lệ thừa cân béo phì khu vực thành thị là 26,8%, nông thôn là 18,3% và miền núi là 6,9%.

Béo phì được các tổ chức y tế bao gồm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association) công nhận là một bệnh mạn tính đòi hỏi phải quản lý và điều trị lâu dài.

Béo phì có tác động bất lợi lên tất cả các vấn đề sức khỏe, làm giảm thời gian sống, gây ra nhiều bệnh lý mạn tính không lây như: đái tháo đường, bệnh lý tim mạch, tăng lipid máu, hội chứng ngưng thở lúc ngủ, làm giảm chất lượng sống,… Những biện pháp ngăn ngừa, điều trị thừa cân, béo phì và duy trì thực hiện việc kiểm soát cân nặng lâu dài có thể cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm biến chứng cho người bệnh.

Béo phì gây ra các vấn đề trầm trọng đến sức khỏe, là thủ phạm gây hơn 200 bệnh khác nhau, như bệnh tim mạch, đột quị, đái tháo đường, thoái hóa khớp, gan nhiễm mỡ và nhiều bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa… Tình trạng tự chữa béo phì không có hiệu quả, nhiều biến cố nặng và tốn kém.

NGUYÊN NHÂN BỆNH BÉO PHÌ

1. Về dinh dưỡng

a) Nguyên nhân dinh dưỡng của béo phì là đa dạng, chủ yếu do:

– Tăng quá mức lượng năng lượng ăn vào

– Ăn quá nhiều: nghĩa là ăn một lượng thức ăn nhiều hơn nhu cầu của cơ thể.

b) Người ăn quá mức có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như:

+ Thói quen của gia đình

+ Sự chủ quan của người ăn nhiều

– Chế độ ăn “giàu” chất béo

– Ở trẻ em: tiêu thụ quá nhiều chất ngọt làm tăng nguy cơ béo phì

– Nuôi con bằng sữa mẹ ít hơn 3 tháng thường đi kèm với tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em khi đến trường.

2. Do di truyền

Tế bào mỡ dễ dàng phân chia theo một trong hai cách:

– Quá sản: vừa tăng thể tích, vừa tăng số lượng tế bào mỡ (tăng gấp 3 – 4 lần), xảy ra cho trẻ em hoặc tuổi dậy thì, khó điều trị.

– Phì đại: tế bào mỡ to ra do gia tăng sự tích tụ mỡ nhưng không tăng số lượng hay gặp ở người lớn, tiên lượng tốt hơn.

3.Nguyên nhân nội tiết

– Tổn thương hạ đồi do chấn thương, bệnh lý ác tính, viêm nhiễm, suy sinh dục, giảm gonadotropin.

– Hội chứng béo phì – sinh dục

– Suy giáp

– Cường thượng thận

– U tụy tiết insulin

– Hội chứng buồng trứng đa nang

4. Nguyên nhân mô bệnh học

– Tăng sản quá mức số lượng tế bào mỡ mà kích thước tế bào mỡ có thể bình thường.

– Phì đại tế bào mỡ mà số lượng tế bào mỡ không tăng hoặc chỉ tăng khi các tế bào mỡ phì to hết cỡ.

5. Nguyên nhân do sử dụng thuốc

– Hormon steroide

– Kháng trầm cảm cổ điển (3 vòng, 4 vòng, IMAO)

– Benzodiazepine

– Lithium

– Thuốc chống loạn thần

6. Nguyên nhân khác

– Lối sống tĩnh tại, lười hoạt động thể lực

– Bỏ hút thuốc lá. Cần chủ động phòng thừa cân, béo phì khi bỏ thuốc lá

– Hút thuốc khi mang thai: con cái của các bà mẹ hút thuốc khi mang thai có nguy cơ gia tăng trọng lượng đáng kể về sau này.

Tuy nhiên, bệnh nhân béo phì có thể do có nhiều nguyên nhân phối hợp.

CÁC DẠNG BÉO PHÌ

1. Béo phì dạng nam (béo phì phần trên cơ thể, béo phì kiểu bụng, béo phì hình quả táo, béo phì trung tâm)

– Mỡ phân bố nhiều ở bụng, thân, vai, cánh tay, cổ, mặt.

– Vẻ mặt hồng hào

– Cơ vẫn phát triển khác với hội chứng Cushing

– Dạng béo phì này thường xảy ra ở người ăn nhiều.

Béo phì dạng nam thường dễ dẫn đến các biến chứng về chuyển hóa như hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường, đái tháo đường típ 2, bệnh gút, bệnh tim, tăng huyết áp, bệnh túi mật, ung thư vú,…

2. Béo phì dạng nữ (béo phì phần dưới cơ thể, béo phì hình quả lê)

– Mỡ phân bố chủ yếu ở phần dưới của cơ thể (khung chậu, vùng thắt lưng, mông, đùi)

– Da xanh

– Cơ ít phát triển

– Thường bị suy nhược

– Thường kèm suy tĩnh mạch, rối loạn kinh nguyệt ở nữ

3. Béo phì hỗn hợp

Mỡ phân bố khá đồng đều. Các trường hợp quá béo phì thường là béo phì hỗn hợp.

Một số dạng béo phì ở nam giới và nữ giới

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BÉO PHÌ

  • Nguyên nhân gây nên bệnh béo phì: di truyền, nội tiết, mô bệnh học, dinh dưỡng, thuốc và nguyên nhân khác như lối sống tĩnh tại, hút thuốc lá khi mang thai.
  • Chẩn đoán thừa cân, béo phì dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI), vòng bụng, áp dụng phân độ béo phì theo WHO dành cho người Châu Á như sau:
  • Các dạng béo phì: béo phì dạng nam, béo phì dạng nữ và dạng hỗn hợp
  • Nguyên tắc chung trong điều trị béo phì:
  • Hướng dẫn tập trung thời lượng lớn cho phần điều trị cụ thể béo phì bằng dinh dưỡng, vận động, tâm lý, thuốc và điều trị phẫu thuật trong béo phì.

Cơ thể của bạn gầy hay béo tính theo chỉ số khối cơ thể BMI?

BMI (kg/m2)

Phân loại

< 18,5

Thiếu cân

18,5 – 22,9

Bình thường

23-24,9

Thừa cân

25 – 29,9

Béo phì độ I

≥ 30

Béo phì độ II

 Các bước điều trị béo phì

  • Mục tiêu giảm cân: Giảm cân 5–15% trong khoảng thời gian 6 tháng là thực tế và đã được chứng minh mang lại lợi ích sức khỏe. Duy trì giảm cân và phòng ngừa, điều trị các bệnh đồng mắc là hai tiêu chí chính để thành công.
  • Can thiệp lối sống là nền tảng đảm bảo duy trì giảm cân bền vững, an toàn bao gồm các biện pháp can thiệp dinh dưỡng, tập luyện thể lực, thay đổi hành vi, hỗ trợ tâm lý;
  • Điều trị bằng thuốc: khi can thiệp lối sống trong 3 tháng không giúp giảm được 5% cân nặng, người bệnh có BMI ≥ 25 (kg/m2)
  • Chỉ định của phẫu thuật giảm cân khi thất bại với các điều trị không phẫu thuật ở người bệnh có BMI ≥ 35 (kg/m2) hay BMI≥ 30 (kg/m2) kèm bệnh lý đồng mắc liên quan béo phì. Mỗi phương pháp phẫu thuật béo phì đều có ưu nhược điểm riêng. Tùy từng trường hợp bệnh nhân cụ thể sẽ được tư vấn và lựa chọn phù hợp.
  • Theo dõi người bệnh: Béo phì là một bệnh mạn tính. Người bệnh cần được theo dõi và tái khám thường xuyên để ngăn ngừa tăng cân trở lại và để theo dõi nguy cơ bệnh tật cũng như điều trị các bệnh đồng mắc nếu xuất hiện.

Toàn văn: Quyết định 2892/QĐ-BYT 2022 tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì”.

Bệnh viện Đại học Y Tân Tạo

______________________________
🏥 BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y TÂN TẠO
🚩 Lô 10, KCN Tân Đức, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
📮Email: info@benhvientantao.combenhvientantao@gmail.com
🌎 Website: https://benhvientantao.com – Zalo: 0768 999 115
☎️ Hotline: 0272 3769 727 – 🚨 Cấp cứu: 0704 911 115

 

TIN TỨC KHÁC

Ngày Đái tháo đường Quốc tế: Tăng cường tiếp cận giáo dục về Đái tháo đường

Ù tai: Nguyên nhân, chiến lược kiểm soát và phòng ngừa

Tin tức khác